Hiển thị các bài đăng có nhãn nguồn gốc loài người. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nguồn gốc loài người. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Giả Thuyết về ANNUNAKI





Thần thoại của vùng Lưỡng Hà


Theo thần thoại cổ đại vùng Lưỡng Hà, Annunaki là một từ có nghĩa là: " Từ bầu trời đến Trái đất. " Anu là vị thần tối cao trong hệ thống niềm tin của người Sumer. Ki là nữ thần của trái đất. Con đẻ của Anu và Ki được gọi là Annunaki. Thay vì hiểu theo nghĩa đen, Anu và Ki nên được hiểu theo nghĩa bóng là những người từ trên trời đến trái đất. Các Annunaki chỉ đơn giản là những đứa trẻ mà Anu đã tạo ra trên hành tinh Ki (trái đất). Các Annunaki từng được phục vụ bởi chủng loài Igigi, cho đến khi Igigi nổi dậy. Do đó các Annunaki cần phải tạo ra loài người để làm người phục vụ. Những người phục vụ không phải là nô lệ; họ đã được trân trọng ở địa vị cao, và được tạo ra chỉ với mục đích làm giảm công việc lao động cho các vị thần. Ban đầu, nhân loại đã không có tuổi thọ giới hạn, vì thế các vị thần chỉ có thể kiểm soát nạn nhân mãn qua lũ lụt, dịch bệnh, và nạn đói. Trong trận lũ cuối cùng, các vị thần đã xúc động vì khổ đau của nhân loại, và như vậy loài người đã được tạo ra với một tuổi thọ nhất định.



Trận hông thủy mà Ziusudra (Noah) sống sót với vợ trên chiếc tàu là trận hồng thủy cuối cùng có thể được tìm thấy trong Atra - Hasis và Epic của Gilgamesh . Ngoài ra còn một huyền thần thoại khác, đó là huyền thoại về mối quan hệ giữa Anu và Ki. Anu được gọi là huyền thoại về Chúa trời (sky god) và Mẹ Trái đất. Có một vị thần gọi là Enlil trông coi và kiểm soát bầu trời.

Câu chuyện về Annunaki


Annunaki là một chủng loại sinh vật đã đi băng qua không gian đến cư trú tại hành tinh Trái đất. Các Annunaki cai trị một chủng loài gọi là "Igigi". Loài Igigi là người làm việc phục tùng các Annunaki . Nhưng sau 2500 năm của lao động, Igigis nổi dậy chống lại lại các Annunaki. Thần Enki (lãnh đạo Annunaki) đề nghị tạo ra một chủng loại mới. Sau khi xem xét các điều kiện, rồi ở một nơi được gọi là Eden, Annunaki đã tạo ra loài người. “Đất sét trộn với thịt và máu” của một Anunaki để chủng loài mới này có thể có sự khôn ngoan của thần thánh. Nintu đã đưa một chút “chất mềm” vào " vỏ sò " và chín tháng sau đó, con người được sinh ra. Công nghệ tinh xảo về gen đã thành công, con người đã chứng minh nó là một lực lượng lao động tốt.

Huyền thoại cổ xưa về một vụ va chạm trong hệ mặt trời



Theo Zecharia Sitchin, hệ mặt trời của chúng ta vốn có 10 hành tinh. Sau đó đã có một hành tinh đã bị va chạm. Từ mảnh vỡ của cú va chạm, một nửa trở thành hành tinh Trái Đất, trong khi nửa còn lại đã trở thành vành đai tiểu hành tinh. Nguyên nhân của vụ tai nạn được cho là do một vật thể từ ngoài vũ trụ.
Nibiru là một hành tinh lớn (gấp nhiều lần trái đất) có quỹ đạo rất rộng. Đường bay của Nibiru cắt ngang thái dương hệ theo chu kỳ khoảng 3500 năm một lần.
Hệ mặt trời của chúng ta, tính cả Nibiru, có tổng cộng là 12 hành tinh.
Người ta hay gọi Nibiru là hành tinh thứ 12.

Các Tôn Giáo vùng Trung Đông


Người Sumer cổ đại thờ phụng các thần Annunaki. Trong tôn giáo Sumer, tín đồ bị cấm nhìn thấy trực tiếp hình hài thực sự của các vị thần Annunaki, vì vậy, người Sumer mô tả các thần của họ như là một động vật giống người (anthropomorphic) thay vì hình thái thực sự của các vị thần. Sau một thời gian dài, các nhóm dân tộc Sumer bị biến mất, rồi thay bằng dân tộc Akkadians, sau đó là dân Babylon. Dần dần, tôn giáo cũ đã được chuyển đổi thành các tôn giáo độc thần như Zoroastrianism và Chrisitianity .

Đặc điểm của Annunaki


Ngoại hình


Người ta không biết ngoại hình của các Annunaki một cách rõ ràng, mặc dù theo thần thoại Trung Đông, các Annunaki có thể giống như con người ở dạng nguyên bản, nhưng chiều cao lớn hơn. Các Annunaki là một chủng loại thay đổi hình dạng và có thể biến đổi thành nhiều hình dạng với kích cỡ khác nhau.

Mức trí tuệ


Đương nhiên Anunnaki là loài có khả năng tư duy. Có một số người cho rằng Anunnaki là chủng loài có siêu trí tuệ. Siêu trí tuệ này, nếu so sánh với trí tuệ của con người, sẽ giống như sự so sánh trí tuệ của con người với loài tinh tinh .

Ngôn ngữ


Theo các nhà lý thuyết âm mưu (conspiracy theorist), ngôn ngữ Sumer dường như là ngôn ngữ của loài Annunaki. Nhiều người tin rằng đây là ngôn ngữ đầu tiên được thể hiện bằng chữ viết và như vậy, ngôn ngữ của các Annunaki là ngôn ngữ “tiền-Sumer”. Nếu điều này là đúng, ngôn ngữ gần gũi nhất với các Annunaki sẽ phải là ngôn ngữ Hungary. Trong lịch sử tiền hiện đại, nhiều nhà ngôn ngữ học đã tìm thấy nhiều điểm tương đồng giữa các ngôn ngữ Hungary và ngôn ngữ Sumer. Người Hungary được cho là nhóm người Sumer sống lưu vong, nhiều truyền thuyết từ nền văn hóa Hungary cổ liên quan đến huyền thoại Annunaki. Dân tộc Manysi và dân tộc Khanty, cũng như người Hungary được xếp vào gia đình ngôn ngữ “Ugaric”. Có người tin rằng Mansi là hậu duệ của người Sumer . Tuy nhiên, mối quan hệ thân ngôn ngữ (linguistic affinities) tìm thấy cùng với tiếng Do Thái (Hebrew), đã ám chỉ các mối liên hệ khác của ngôn ngữ Sumer với các ngôn ngữ Semetic, tức loại ngôn ngữ đầu tiên dùng để viết Kinh Thánh. Akkadian là một ngôn ngữ semetic đã được người Sumer sử dụng thường xuyên trong thời kỳ người Akkadians đi vào Iraq.

Sụp đổ của tháp Babel – Sự thoái hóa ngôn ngữ nguyên thủy


Người ta tin rằng ngôn ngữ Sumer cổ đại đã biến thể sang nhiều ngôn ngữ khác nhau để tạo ra các nhóm ngôn ngữ chính mà chúng ta được biết bây giờ. Ngôn ngữ của Annunaki được cho là một ngôn ngữ hàm chứa rất nhiều logic, có nghĩa nó là một ngôn ngữ có độ chính xác cao, và những gì được nói đến trong ngôn ngữ đó đều được diễn tả đặc biệt. Nếu vậy, thì ngôn ngữ Annunaki có ngữ pháp rất tinh vi, mất rất nhiều thời gian học tập . Khi ngôn ngữ nguyên thủy của loài người bắt đầu thoái hóa, ví dụ khi ngôn ngữ không còn các “case” và “signature” thì cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nguyên thủy có thể đã bị mất rất nhiều. Người ta thấy ngôn ngữ Hungary có nhiều cấu trúc dường như xa lạ với ngôn ngữ láng giềng Ấn-Âu (indo-European) của nó. Ngôn ngữ Do Thái (Hebrew), cũng có mối quan hệ thân ngôn ngữ, ám chỉ mối liên hệ giữa ngôn ngữ Sumer và Semetic.

Mối quan hệ giữa Annunaki với các chủng loài khác


Reptilians


Các Reptilians là một loài đến từ hành tinh khác và được đồn đại là có thật. Cũng không chắc là Anunnaki hoặc Reptillians là hai loài riêng biệt, hoặc thực tế chúng là cùng một loài hoặc một trong hai chi nhánh của nhau. Reptilians cũng được ghi nhận là loài có hình dạng thay đổi, và có kiến ​​thức về kỹ thuật di truyền. Một số vị thần cổ đại, được tôn thờ trong những tôn giáo lớn thủa xưa, được cho là Reptilians, đã quyến dụ con người với mong muốn được con người tôn kính như một vị thần! Giống như người Sumer cũng đã từng tôn kính các Annunaki. Sự khác biệt là các Reptillians là loài bò sát có hình dạng giống người nhưng có vảy (và đôi khi cũng được mô tả là loài bò sát không có vảy). Reptilians đã được biết là có một loài bẩm sinh ác độc. Nhưng mặc dù vậy, vẫn có tồn tại loài Reptilia phúc hậu. Bản chất của Annunaki là không rõ.

Pleiadians


Các Pleiadians là một loài đến từ hành tinh khác. Không chắc Anunnaki và Pleiadians là hai loài riêng biệt, hoặc họ là cùng một loài, hoặc họ là một trong hai chi nhánh của nhau. Pleiadians đã được ghi nhận như là một chủng loài nhân hậu, luôn muốn thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng. Không có thông tin liệu họ có tiến hành các hoạt động liên quan đến việc sáng tạo nhân loại hay không? Khó có thể liên hệ các bản chất của Annunaki với Pleiadians. Cũng không rõ là các thần linh trong các tôn giáo thời cổ đại có phải là Pleiadians hay không? (mặc dù Chúa Kitô đã được gọi một cách gợi ý dưới cái tên “Jmannuel ").

Các Pleiadians có hình thể rất khác nhau. Loại phổ biến nhất là gọi là người Nordic (Bắc Âu). Hình thể đặc thù của Pleiadians có thể là những người tóc vàng mắt xanh cho đến những người giống bạch tạng. Vóc dáng của họ rất cao to và khối lượng cơ bắp lớn hơn. Họ đã được gọi là người “Bắc Âu” vì họ giống với người ở bán đảo Scandinavi . Ngoài ra còn có các biến thể khác của Pleiadians có màu da tối, như một biến thể Pleiadians giống người da đen. Một biến thể khác làm cho Pleiadians có hình thái giống người phía Đông Ấn Độ. Tuy vậy, hình dạng đặc trưng nhất của Pleiadians là hình dạng giống người Bắc Âu. Pleiadians trông giống như con người nhưng có thể họ đã đến hành tinh trái đất này từ nhiều thời kỳ trước đây. Nếu Pleiadians trông giống như con người, họ cũng có thể liên quan đến các Annunaki, chủng loài được biết như là "hình ảnh của loài người"

Greys


Chủng loại Grey ít được biết đến. Grey là một chủng loại hoàn toàn không có giới tính (genderless), có khả năng thần giao cách cảm, có cái đầu lớn biểu hiện cho sự thông minh . Cả hai loài Greys và Annunaki đều có kinh nghiệm trong kỹ thuật di truyền, ví dụ như Greys sử dụng công nghệ nhân bản chính mình hoặc tạo một bào thai lai với con người, trong khi Pleiadians tạo ra phiên bản bào thai của chính mình. Có thể, chủng loài Greys (hoặc một số trong số họ) là một chủng phục vụ cho Anunnaki, nhưng mối quan hệ giữa hai chủng loại còn là điều không rõ ràng.

Hành tinh mẹ của các chủng loài ngoài trái đất


Nibiru


Nibiru là tên gọi cho một hành tinh hay cho một vương quốc nhỏ chưa ra đời. Nó có các hành tinh quay xung quanh và các thiên thể (chẳng hạn như các tiểu hành tinh nhỏ) của riêng nó. Nibiru có thể là hành tinh mẹ nơi sinh ra các Annunaki. Nơi này cũng đã được giả thuyết là quê hương của chủng loài Reptilians.


Vương quốc của Thiên Chúa (The kingdom of God)


Có giả thuyết cho rằng Annunaki là những thiên thần được tạo ra bởi Thiên Chúa. Như vậy, hành tinh mẹ của họ chính là Vương Quốc của Thiên Chúa, cái mà người Hồi Giáo gọi là Paradise và thế giới phương Tây gọi là Heaven (thực sự có nghĩa là những gì chúng ta nhìn thấy trên bầu trời ) .

Lý thuyết này chỉ đúng nếu Anunnaki là tôi tớ của Thượng Đế Abraham, có nghĩa Abraham là vị thần của họ. Theo quan điểm Hồi giáo, Anunnaki có thể được tự do làm theo ý chí ( jinn hoặc djinn ) riêng của mình hoặc tuân theo mệnh lệnh của Thượng Đế. Theo quan điểm Kitô giáo hiện nay, Anunnaki có thể là thiên sứ tuân phục lệnh của Chúa, hoặc có thể là thiên sứ sa ngã, không vâng lời Thiên Chúa (để tiếp tục theo đuổi những ham muốn riêng của họ). Các nhà lý thuyết âm mưu cho rằng chủng loại Reptilia chính là con cháu của các thiên thần sa ngã, và theo quan điểm Hồi giáo, họ là một trong những jinns (Quỷ) và Brittani (người nói ngôn ngữ Celtic) là người cai trị của Annunaki.

Văn hóa của loài Anunnaki

Không rõ về văn hóa của loài Annunaki. Tuy nhiên, các mẫu thiết kế kiến trúc có thể là rất giống với các mẫu thiết kế được sử dụng bởi người Sumer .

Tôn Giáo


Không rõ về Tôn giáo của người Anunnaki. Có khả năng Annunaki có ba tôn giáo .

Tôn giáo độc thần: Thờ phụng Thiên Chúa Abraham (như trong tài liệu mà người Sumarians đã ghi chép những câu chuyện về họ, song song với những câu chuyện trong Kinh thánh Cựu Ước). Có bằng chứng cho thấy các Annunaki được chỉ huy bởi Thiên Chúa, hoặc hành động của họ kết cục là sai lầm, nhưng tất cả đều do chủ đích của Thiên Chúa.
Tôn giáo đa thần: như tôn giáo của người Sumer
Vô thần: Một số người tin Annunaki theo triết lý Vô thần vì họ đã có tiến bộ cực cao trong ngành công nghệ. Annunaki sẽ từ chối một hiện sinh tối cao trong vũ trụ giống như một số người trong xã hội tiên tiến của chúng tôi ngày nay.

Tổng Kết về giả thuyết Annanuki


Nơi gặp gỡ giữa các quan điểm đối nghịch về nguồn gốc loài người


Nếu thuyết về tiến hóa của Darwin đã đưa đến một cuộc xung đột rất lớn với quan điểm của các tôn giáo trên thế giới, thì thuyết về Anunnaki lại đóng một vai trò như là một điểm hội tụ, có thể hóa giải các mâu thuẫn cho các nhà tiến hóa luận, sáng tạo luận và nhà nghiên cứu sử cổ đại.

Giả thuyết về Anunnaki dựa trên các cuộc khai quật tìm thấy các tài liệu và hiện vật cổ xưa. Đây là các bằng chứng xác nhận các nền văn minh cổ đại đã từng được trợ giúp bởi người ngoài trái đất. Trong các bản thảo cổ xưa, có một số thông tin ngụ ý rằng các nền văn minh cổ đại đã có được kiến ​​thức khoa học tiên tiến mà con người chúng ta đang biết trong thời kỳ hiện đại Mô hình chuỗi xoắn kép của DNA, thể hiện ở biểu tượng con rắn xoắn kép trên một cái cây biểu, chính là hình ảnh phổ biến trong số những biểu tượng y tế ngày nay. Một sự thực là biểu tượng con rắn xoắn kép đã được dựa trên mô hình AND. Đó chính là bằng chứng cho thấy rất xa xưa trong cổ đại đã tồn tại những kiến ​​thức về mô hình bộ gen DNA. Các bản văn phụng vụ cổ xưa, di tích của vùng Lưỡng Hà đã được liên kết với đoạn khác nhau trong Kinh thánh Hebrew. Ví dụ, sử thi của Gilgamesh là tương đồng của câu chuyện về Noah Ark, và kinh Sáng thế ký (Genesis) trong Torah phù hợp với truyền thuyết sáng tạo của vùng Sumer có liên quan đến các Annunaki .

Các thuyết âm mưu - Conspiracy theories


Trong hiện đại Các thuyết âm mưu xoay quanh các chủ đề như vụ 11/9, và các kế hoạch bí mật của các tầng lớp trên thế giới như New World Order. Bên cạnh đó là giả thuyết về các Anunnaki. Các Annunaki thường liên quan Reptillians và cả hai được cho là cùng loài. Có thông tin cho rằng các tầng lớp nắm giữ quyền lực cao trên trái đất thuộc về một trong những chủng Annunaki.

Phạm Doãn



-----

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Giả Thuyết của Sitchin về Nguồn Gốc Loài Người


Tác giả : Chung Huynh L

Tựa đề chính:

Bí ẩn về Annunaki, hành tinh Nibiru (X) và giả thuyết người ngoài hành tinh tạo ra con người


Zecharia Sitchin (tiếng Nga: Захария Ситчин; Azerbaijan: Zaxariya Sitçin) sinh ngày 11 tháng 7 năm 1920, mất ngày 09 tháng 10 năm 2010 [1] là một người Mỹ gốc Azerbaijan là tác giả của hàng loạt cuốn sách đưa ra giải thích về nguồn gốc loài người liên quan đến các người ngoài hành tinh cổ đại. Sitchin cho rằng nền văn hóa Sumer cổ đại (Lưỡng Hà) được tạo ra từ các Anunnaki, một sinh vật tiên tiến đến từ hành tinh có vị trí xa nhất trong Thái dương hệ, xếp sau Hải vương tinh, được gọi là Nibiru. Ông tin rằng hành tinh Nibiru có chu kỳ quỹ đạo 3.600 năm xoay quanh mặt trời , và khẳng định rằng thần thoại Sumer có đề cập đến luận điểm này. Sách của Sitchin đã bán được hàng triệu bản trên toàn thế giới và đã được dịch ra hơn 25 ngôn ngữ. Giả thuyết của Sitchin đã bị các nhà khoa học và các học giả phản bác. Tác phẩm của ông đã bị chỉ trích vì phương pháp sai lầm và dịch sai của bản văn cổ cũng như các tuyên bố thiên văn học và khoa học thiếu chính xác. – Theo Wiki
Lưu ý: Trước đây hành tinh thứ 9 là Pluto (trước đây gọi là Sao Diêm Vương). Tuy nhiên đến tháng 8 năm 2006, hành tinh này đã được xét lại và với các yếu tố về khối lượng, đường kính và khả năng phản chiếu ánh sáng quá thấp so với 8 hành tinh còn lại, Pluto đã bị loại ra khỏi danh sách các hành tinh của Hệ Mặt Trời. Cho nên chính thức trong hệ mặt trời chỉ có 8 hành tinh.
Bài viết này tham khảo sách của Sitchin nên vẫn giữ nguyên lý luận của ông lúc đó gồm 9 hành tinh, nên Nibiru được gọi là hành tinh thứ 10.


Anunnaki là ai?



Trong các bản văn tự cổ, Anunnaki thường được đề cập để chỉ đến một nhóm các vị thần, một cái tên bắt nguồn từ tên của trời và đất. Anu và Ki được một số diễn giải khác là “dòng máu hoàng gia” hay “con cháu hoàng tộc“. Một số người tin rằng Anunnaki là những đứa con trai và con gái của trời và đất. Tuy nhiên, giả thuyết gây tranh cãi lớn nhất đó là ý kiến cho rằng họ chính là tổ tiên đã tạo ra nền văn minhLưỡng Hà ( vùng châu thổ sông Euphrates và sông Tigris – Trung Đông). Cũng theo giả thuyết này, những sinh vật ngoài trái đất chính là tác giả của những phát minh vượt bậc thời bấy giờ, đến từ hành tinh Nibiru hay còn gọi là Hành tinh X (Planet X).







Những bức tượng của người Sumer cho thấy hình dạng các Anunnaki được cho là có phần đầu giống rắn hoặc loài bò sát.


Văn hóa Sumer và Anunaki


Trong cuốn sách của Zecharia Sitchin, ông cho rằng nền văn minh cổ đại Sumer ( Sumer : ”những người đến từ trời cao” ;) được tạo bởi Anunnaki, một sinh vật đến từ một nơi ngoài trái đất, đó là hành tinh Nibiru, xếp sau hành tinh xa nhất hệ mặt trời là Hải vương tinh. Ông cũng giả thuyết đây là một hành tinh đang trong thời kỳ diệt vong, và các sinh vật này du hành đến trái đất để tìm kiếm vàng, thứ mà họ sử dụng để chế biến thành nguyên liệu có thể cứu bầu khí quyển đang chết dần trên hành tinh của họ. Theo giả thuyết của tác giả Sitchin, Anunnaki là sinh vật đến từ hành tinh thứ 1o trong Thái Dương Hệ của chúng ta. Họ đã định cư trên trái đất từ 432.000 năm trước tại khu vực Lưỡng Hà, (Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Irag, Iran ngày nay) với mục đích khai thác khoáng sản vàng trên trái đất. Khoảng 250.000 năm trước, theo các tài liệu phục hồi được, các thợ khai thác mỏ đã nổi loạn chống lại điều kiện tồi tệ tại các khu khai thác. Hội đồng Anunnaki cấp cao đã quyết định tạo ra một sinh vật mới để làm nô lệ khai thác cho họ. Enki người đứng đầu về mặt khoa học và Ninhursag chủ nhiệm hội đồng sinh học đã lai tạo gien của Anunnaki và động vật Erectus Homo (người vượn cổ) để tạo ra loài người. Bởi vì là loài động vật lai, nên loài người ban đầu không có khả năng sinh sản. Nhưng do nhu cầu cần nô lệ nhiều hơn,Anunnaki đã biến đổi di truyền để loài người có thể duy trì và phát triển nòi giống.



Người ta cho rằng quá trình tiến hóa của loài người có sự can thiệp của Anunnaki
Một thời gian sau, con người đã tiến hóa vượt bậc, một số thoát khỏi các trung tâm thành phố Anunnakivà sinh sống khắp nơi trên thế giới. Sự phát triển của loài người vượt tầm kiểm soát của Anunnaki. Chuyện này là không thể chấp nhận được đối với Hội đồng cấp cao Anunnaki. Họ đã thông qua chỉ thị tạo ra một số thiên tai như lũ lụt hòng quét sạch dân số giống loài mà họ đã dựng lên vào khoảng thời gian 12.500 trước đây. Một số Anunnaki được cứu sống bởi nhân vật quyền lực như Enki, người đã có công trong việc tạo ra di truyền ở loài người. Hàng nghìn năm tiếp theo trôi qua, con người được cácAnunnaki sử dụng như là nô lệ, công nhân và binh sĩ chiến đấu cho những mâu thuẫn chính trị trong nội bộ các Anunnaki. Con người cũng chính là những nô lệ dựng lên các đền đài, cung điện, trạm thiên văn trên các châu lục từ Ai Cập, Ấn Độ đến Trung Mỹ theo yêu cầu của của họ.



Phù điêu cổ của người Sumer mô tả các Anunnaki

Khoảng 6000 năm trước, con người bắt đầu có nền văn minh của riêng mình và cũng đã đến lúc họ phải trở về hành tinh của mình theo đúng chu kỳ 3.600 năm của hành tinh Nibiru. Summer, nền văn minh Lưỡng Hà ra đời dưới sự giám sát của các Anunnaki. Các vì Vua là những người ưu tú được họ chọn lựa và trao quyền để thực thi các sứ mệnh của Anunnaki. Đây cũng là một chủng người mang những gien vượt trội của họ. Những vì vua và dòng dõi được họ huấn luyện với nền giáo dục tiên tiến về công nghệ, toán học, thiên văn … Và con người bắt đầu một cuộc sống độc lập của riêng mình.

Bằng chứng gì hỗ trợ giả thuyết của Sitchin?


Bằng chứng thiên văn





Hình minh họa sự kiên hành tinh
Nibiru va chạm với Tiamat,
tạo ra trái đất

Nền tảng giả thuyết của tác giả Zecharia Sitchin chính là hành tinh Nabuki, vậy có hay không sự tồn tại của hành tinh thứ 10 trong Thái Dương Hệ?, quê nhà của Anunnaki, về kích thước, tính chất đặc điểm như Sitchin đã mô tả?

Ngược dòng lịch sử, Tombaugh phát hiện ra Diêm vương tinh vào năm 1930. Christie, thuộc Đài quan sát Hải quân Mỹ phát hiện ra Charon, vệ tinh của Diêm vương tinh vào năm 1978. Các đặc tính tác động của Diêm vương tinh lên quỷ đạo mặt trăng Charon chứng minh vẫn phải còn một hành tinh lớn nữa chưa được khám phá. Diêm vương tinh không thể là tác giả của các nguyên nhân gây ra các dao động, “sự lắc lư’ được xác nhận rõ ràng của quỷ đạo Thiên vương tinh và Hải vương tinh . Các IRAS – vệ tinh thiên văn hồng ngoại thực hiện quan sát để tìm hành tinh thứ 10 một cách ráo riết vào những năm 83-84, như một nhà thiên văn tham gia dự án cho biết “tất cả còn phải làm là nên chuẩn bị tìm một cái tên đặt cho nó“. Năm 1992, Harrington và Van Flandern của Đài quan sát Hải quân cho biết với những thông tin họ có trong tay, hành tinh thứ 10 có tồn tại, thậm chí họ còn gọi nó là “kẻ xâm nhập”. Sau khi đọc bản dịch Enûma Eliš , một bản văn tự cổ của nền văn minh Sumer, được tìm thấy tại vùng Lưỡng Hà, Harringtonđã mời Sitchin, đến tham gia một cuộc họp tại văn phòng của mình để so sánh kết quả quan sát có được hiện tại và các ghi chép thiên văn học của văn tự cổ xưa. Bản văn tự cổ Enûma Eliš được phục hồi cũng cung cấp nhiều thông tin về hệ mặt trời của chúng ta. Tại thời điểm Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thiên vương tinh và Thổ tinh nằm trên quỷ đạo, còn có một hành tinh khác có kích thước bằng Thiên vương tinh nằm giữa quỷ đạo Mộc tinh và Thổ tinh có tên là Tiamat. Lúc này Trái đất chưa nằm trong Hệ mặt trời. Nibiru lúc này là một hành tinh lớn “lang thang” bị hút vào quỹ đạo của Thái Dương Hệ. Do đến từ ngoài hệ mặt trời, nó gây ra các xáo trộn ảnh hưởng đến các quỹ đạo các vệ tinh của các hành tinh hiện có. Trục Thiên vương tinh bị nghiêng sang một bên. Diêm vương tinh bị trôi dạt ra khỏi quỷ đạo của Thổ tinh và xoay quanh quỷ đạo mới của riêng mình. Lực hút cũng bẻ cong đường đi của Nibirugây ra các va chạm. Đầu tiên vệ tinh của nó va chạm với hành tinh lớn Tiamat, và sau đó chính nó cũng chạm vào hành tinh này, mảnh vở lớn nhất của nó hình thành nên trái đất ngày nay, và vệ tinh của kẻ xâm nhập cũng trở thành mặt trăng của hành tinh chúng ta. Những mảnh vụn nhỏ lớn tạo thành các vành đai tiểu hành tinh (asteroid belt) và thiên thạch, sao chổi lang thang trong hệ mặt trời. Vành đai Thái Bình Bình Dương được cho là cái sẹo còn lại sau sự kiện va chạm này. Như vậy Nibiru chính thức gia nhập vào hàng ngũ các hành tinh anh em xoay quanh mặt trời, và chu kỳ quỷ đạo của nó là 3.600 năm so với trái đất chỉ có 365 ngày (chính xác là 365,2564) . Tuy nhiên chiều quỹ đạo của nó ngược lại với tất cả các hành tinh khác, đi qua vùng vành đai các tiểu hành tinh nằm giữa Hỏa tinh và Mộc tinh tại điểm gần nhất (so với mặt trời) và điểm xa nhất của Diêm vương tinh.




Mặt Trời · Sao Thủy · Sao Kim · Trái Đất · Sao Hỏa · Ceres · Sao Mộc · Sao Thổ · Sao Thiên Vương · Sao Hải Vương · Sao Diêm Vương · Haumea · Makemake · Eris (Từ trái sang phải)


Về cơ bản những thông tin mà Harrington có được trùng khớp với những gì chỉ ra trong bản văn tự cổ. Vị trí của hành tinh X (Nibiru) theo quan điểm của hai ông là thống nhất.

Bằng chứng công nghệ


Oopart là thuật ngữ dùng để mô tả các hiện vật, đồ chơi, dụng cụ, thiết bị kỹ thuật và tài liệu có tính năng vượt bậc so với niên đại của chúng được tìm thấy qua khai quật. Thí dụ, một chiếc bình cổ có công dụng như hoạt động của pin vào thời cổ đại được tìm thấy tại sa mạc Irag có niên đại 2500 năm trước Công nguyên (Xem thêm tại đây), Các mô hình máy bay, phi thuyền, máy bay trực thăng …trong lăng mộ cổ Ai Cập (Xem thêm tại đây), những tảng đá khối nặng 1000 tấn được cắt chính xác để xây dựng các Kim Tự Tháp vẫn là một câu hỏi lớn đối với các nhà khoa học và khảo cổ ngày nay. Đỉnh nhất về oopart là phát hiện gần đây nhất của David Hudson, đó là “monoatomic gold“(một chất siêu dẫn ở nhiệt độ trong phòng, có đặc tính kháng trọng lực và hiện đang được nghiên cứu bởi hội đồng vật lý cấp cao). Phát hiện của Hudson có vẻ như trùng khớp với lập luận của Sitchin trước đó, ông cho rằng người Anunnaki đến hành tinh chúng ta để khai thác vàng và sử dụng nó để cứu hành tinh Nibiru của họ. Điều này cũng giúp Gardner làm sáng tỏ những bí ẩn về các nhà máy chế biến vàng của người Anunnaki trên đỉnh núi Horeb, được phát hiện bởi Sir Flinders Petrie năm 1889, cho thấy ”monoatomic gold” đã được biết trước đó ít nhất 3000 năm. Ngoài ra oopart từ nhiều ngành cùng với các tài liệu ghi chép khác nhau cũng cho thấy có một nền văn minh tiên tiến đã từng tồn tại tại một vài thời điểm, họ sở hữu một trình độ công nghệ cao, và đó chỉ có thể là nền văn minh Anunnaki.




Bức tượng phi thuyền được Sitchin vẽ lại (thêm phần đầu bị mất) từ nguyên gốc



Hình tàu bay, phi thuyền, trực thăng được tìm thấy trong lăng mộ Ai Cập



Các bức tượng cổ của người Maya, có hình dáng như các phi hành gia ngày nay

Bằng chứng tài liệu


Các tài liệu lịch sử ghi nhận sự tồn tại và hoạt động của các Anunnaki chỉ mới bắt đầu được khám phá vào đầu những năm 1800.



Bản đất sét, thông tin lưu giữ của người Sumer
Khai quật các địa điểm khảo cổ tại vùng Lưỡng Hà, người ta đã phát hiện nền văn minh tiên tiến Sumer đáng kinh ngạc, vượt xa những hiểu biết của con người về thời cổ đại, có hàng ngàn bảng đất sét ghi lại không chỉ ghi lại các hoạt động buôn bán, kết hôn, quân sự mà còn có những ghi chép tính toán về khoa học thiên văn tiến tiến của cácAnunnaki. Rõ ràng những người Sumer biết rằng những người đến ngoài hành tinh là những sinh vật bằng da bằng thịt. Một trong những phát hiện cực kỳ ấn tượng gần đây nhất đó là một căn phòng có kích thước 1.8 x 2.7 mét, được niêm phong tại Sippar, bên trong có một bộ 400 viên đất sét được xếp gọn gàng trên kệ, chứa đầy đủ thông tin về lịch sử người cổ đại theo trình tự thời gian. Các bằng chứng áp đảo và mạnh mẽ, nếu không ai có những phản biện tốt hơn, nó sẽ được chấp nhận như một thực tế, các quan điểm về thời cổ đại hoàn toàn khác những gì chúng ta đã biết.

Bằng chứng di truyền


Những tài liệu phục hồi cho thấy vị trí các phòng phòng thí nghiệm của Anunnaki được đạt ngay tại các vị trí các mỏ vàng tại phía đông Trung Phi.


Tượng vua Anu

Địa điểm này rơi đúng ngay vào tâm điểm, nơi tìm kiếm xuất phát các ti thể DNA đầu tiên của “Eva”, tức loài Homo Sapiens (vượn người tiến hóa) vào cùng thời gian (Các kỹ sư khai thác mỏ vàng ở châu Phi tìm thấy mỏ vàng có niên đại 100.000 năm tuổi tại đây). Các bằng chứng và mô tả của kỹ thuật gien tiên tiến đều nằm trong các tài liệu cổ. Sự tiến hóa của loài người chỉ trong vòng 250.000 năm, nhanh vượt bậc so với các loài khác trên trái đất mất hàng triệu năm như loài Homo Erectus (một nhóm giống loài trong họ Người đã từng tồn tại khoảng 1,8-3 triệu năm TCN, được Eugène Dubois phát hiện ra trên đảo Java năm 1891.) trước chúng ta. Như một số nhà tư tưởng chỉ ra, chúng ta hoàn toàn dị thường và khác biệt so với các động vật khác trên trái đất. Đương nhiên rất nhiều nhà khoa học đã phản bác các luận điểm của Zecharia Sitchin và những người ủng hộ ông. Tuy nhiên tất cả những tranh cãi vẫn không đưa ra được những bằng chứng phản biện hoàn toàn thuyết phục. Điều đó chúng ta sẽ cùng xem xét trong một bài viết khác.

Một số bài viết liên quan đến những phát minh vượt bậc của con người cổ đại:

Những di vật bí ẩn nhất hành tinh chưa có lời giải đáp (p1)
Những di vật bí ẩn nhất hành tinh chưa có lời giải đáp (p2)
Có phải người Ai Cập cổ xưa đã phát minh ra bóng đèn điện?
Những địa danh huyền bí nhất hành tinh

Bạn có thể tìm hiểu thêm về Anunnaki và lịch sử của họ qua video phỏng vấn Micheal Tellinger, người thường được nhắc đến như là một chuyên gia nghiên cứu về Annuaki


Các clip về thuyết Anunnuaki


Tác giả: Chung Huynh L

Nguồn http://www.cong1.com

Nguồn Gốc Loài Người Theo Đạo Phật



Đạo Phật quan niệm loài người không xuất hiện trên mặt địa cầu này, như một quá trình tiến hóa, mà do Quang Âm Thiên ở cảnh giới khác cao hơn, thoái hóa, rồi tái sanh trên mặt đất này!

-----

Kinh PHẠM VÕNG - Trường Bộ DN 01
Tụng phẩm thứ hai


1. Này các Tỷ-kheo, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp?

2. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đấy, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài.

3. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra, nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung trống rỗng ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

4. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: "Mong sao có các loài hữu tình khác, cũng đến tại chỗ này!" Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung để làm bạn với vị hữu tình kia. Những loại hữu tình ở đấy cũng do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy, trong một thời gian khá dài.

5. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vị hữu tình đầu tiên sanh qua nghĩ rằng: "Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta sanh ra. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này - Chính do sở nguyện của ta mà những loài hữu tình ấy đến tại chỗ này". Các loài hữu tình đến sau cũng nghĩ như thế này: "Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì sao vậy? Vì ta đã thấy vị này sanh trước ở đây rồi. Còn chúng ta thì sanh sau."

6. Này các Tỷ-kheo, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn và được nhiều uy quyền hơn. Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn và được ít quyền hơn. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống quá khứ ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: "Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự Tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ và chịu sự biến dịch".

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

7. Trường hợp thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác?

Này các Tỷ-kheo, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, các chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể chúng.

8. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy.

9. Vị ấy nói rằng: "Những chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, chúng sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất niệm, nên những chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này".

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

10. Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác?

Này các Tỷ-kheo, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (bị nhiễm hoặc bởi tâm trí). Chúng sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân chúng mệt mỏi, tâm chúng mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh từ bỏ thân thể này của chúng.

11. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các vị hữu tình kia, khi thác sanh từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy, nhưng không nhớ xa hơn đời sống ấy.

12. Vị ấy nói rằng: "Những vị chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, chúng sống lâu ngày không nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày không nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng không oán ghét nhau. Vì tâm trí chúng không oán ghét nhau, nên thân chúng không mệt mỏi, tâm chúng không mệt mỏi. Những hàng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi". Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi. Chúng ta thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này".

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

………

Kinh “Khởi Thế Nhân Bổn”
(Trường Bộ DN 27)

Như vầy tôi nghe:

1. Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), Pubbàràma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migà ramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường). Lúc bấy giờ, Vàsettha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.

2. Vàsettha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi ngôi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Thấy vậy Vàsettha nói với Bhàradvàja:

- Này bạn Bhàradvàja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Này bạn Bhàradvàja, chúng ta hãy đến yết kiến Thế Tôn. Rất có thể chúng ta được nghe một thời pháp từ Thế Tôn.

- Thưa vâng, Hiền giả!

Bhàradvàja vâng theo lời Vàsettha. Rồi cả Vàsettha và Bhàradvàja cùng đến gần Thế Tôn, khi đến xong đảnh lễ Ngài và đi theo sau lưng Thế Tôn, khi Ngài đang đi qua đi lại.

3. Rồi Thế Tôn nói với Vàsettha:

- Này Vàsettha, Ngươi sanh trưởng là Bà-la-môn và thuộc gia tộc Bà-la-môn, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình từ gia tộc Bà-la-môn. Này Vàsettha, người Bà-la-môn có chỉ trích Ngươi, phỉ báng Ngươi chăng?

- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn thật có chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

- Này Vàsettha, các vị Bà-la-môn dùng lời lẽ như thế nào để chỉ trích các Ngươi, phỉ báng các Ngươi, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện?

- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên. Các Ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện - giai cấp các Sa môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân. Làm vậy thật là không tốt, làm vậy thật là không hợp, khi các Ngươi từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiệt, giai cấp Bà-la-môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân". Bạch Thế Tôn, như vậy các vị Bà-la-môn chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.

4. - Này Vàsettha, các người Bà-la-môn thật đã quên quá khứ khi họ nói: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ tiện. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cáp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên". Này Vàsettha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh, lại nói rằng: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng... là con cháu thừa tự của Phạm thiên".

5. Này Vàsettha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la). Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện; những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp và được gọi là không xứng Thánh pháp; những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha có người Bà-la-môn... Này Vàsettha có người Phệ xá... Này Vàsettha, có người Thủ đà la sát sanh... có tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện... là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.

6. Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ không sát sanh, không lấy của không cho, không có tà hạnh, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói lời phù phiếm, không có tâm tham, không có tâm sân, có chánh kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp ấy được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha, có người Bà-la-môn... Này Vàsettha, có người Phệ xá... Này Vàsettha, có người Thủ đà la không sát sanh... không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.

7. Này Vàsettha, vì rằng cả hai pháp hắc và bạch được chỉ trích và được tán thán bởi những người có trí, đều có mặt lẫn lộn trong bốn giai cấp này, nên ở đây, những Bà-la-môn nào nói rằng: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen; chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy; chỉ có Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên." Các vị có trí không thể chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Vàsettha, vì rằng nếu có ai trong bốn giai cấp là một vị Tỷ kheo, một vị A la hán, các lậu hoặc đã được diệt tận, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích tối thượng, hữu kiết sử đã diệt, nhờ chánh trí đã được giải thoát, vị ấy sẽ được xem là tối thượng so sánh với bốn giai cấp, vì xứng với Pháp, không phải không xứng với Pháp. Này Vàsettha, Phàp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

8. Này Vàsettha, đây là một chứng minh điển hình để biết vì sao Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

Này Vàsettha, vua Pasenadi (Ba tư nặc) nước Kosala biết rằng: "Sa môn Gotama xuất gia từ giòng họ liên hệ Sàkyà tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với vua Pasenadi nước Kosala rất lễ độ phải phép. Cũng vậy vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép, vì vua nghĩ: "Có phải Sa môn Gotama là thiện sanh? Còn ta không phải thiện sanh; Sa môn Gotama có hùng lực, ta không có hùng lực; Sa môn Gotama có dáng mặt đẹp đẽ, còn ta có dáng mặt thô xấu; Sa môn Gotama là vị có nhiều thế lực, còn ta ít có thế lực?" Vì rằng vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, kính lễ Pháp nên vua tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép. Này Vàsettha, với chứng minh điển hình này, cần hiểu như thế nào Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.

9. Này Vàsettha, các Ngươi, sanh sai biệt, danh sai biệt, tánh sai biệt, gia hệ sai biệt, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu có ai hỏi: "Các vị là ai?", các Ngươi cần trả lời: "Chúng tôi là Sa môn, dưới sự lãnh đạo của Thích ca tử". Này Vàsettha, ai có lòng tin Như Lai, lòng tin ấy được an trí, có căn đế, an trú và chắc chắn, một lòng tin không bị lôi kéo bởi Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một vị nào ở trên đời, vị ấy có thể nói: "Ta là con chính tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do Pháp sanh, do Pháp tạo ra, là con cháu thừa tự của Pháp." Vì sao vậy? Này Vàsettha, vì là những chữ đồng nghĩa với Như Lai là Pháp thân, là Phạm thân, là Pháp thể, là Phạm thể.

10. Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.

11. Này Vàsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.

12. Này Vàsettha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: "Kìa xem, vật này là gì vậy?", lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vàsettha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất. Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vàsettha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.

13. Này Vàsettha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta." Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: "Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!", như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: "Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!" Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

14. Này Vàsettha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy. Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh. Này Vàsettha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đất. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta". Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.

15. Này Vàsettha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì những hữu tình này bắt đàu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta." Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất. Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: "Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!"; như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: "Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!" Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

16. Này Vàsettha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Này Vàsettha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng. Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm. Này Vàsettha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: "Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?"; như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.

17. Này Vàsettha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vàsettha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ. Này Vàsettha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: "Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiều cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?" Này Vàsettha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng. Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói:
- Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.
Này Vàsettha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói:
- Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.
Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói:
- Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!
Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm.

18. Này Vàsettha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền:
- Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất. Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra. Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra. Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
Này Vàsettha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.

19. Này Vàsettha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói:
- Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
- Thưa Bạn, vâng!
Này Vàsettha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vàsettha, một lần thứ hai... Này Vàsettha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói:
- Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy... Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy. Này Vàsettha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.

20. Này Vàsettha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc:
- Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện. Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.
- Xin vâng, các Tôn giả!
Này Vàsettha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.

21. Này Vàsettha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên. Này Vàsettha, "Vị chủ của ruộng vườn" tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên" Làm cho các người khác hoan hỷ bởi Pháp", tức là Ràja (vị vua). Ràja là danh từ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

22. Này Vàsettha, một số các vị hữu tình suy nghĩ:
- Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.
Các vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy. Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền. Các người khác thấy vậy, nói như sau:
- Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.
Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vàsettha, họ "Jhàyanti", tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jhàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.

23. Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:
"Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.
Này Vàsettha, "Na dàn ime Jhàyanti" tức là ajjhàyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

24. Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vàsettha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

25. Này Vàsettha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vàsettha, được gọi là Suddà. Và danh từ Suddà được khởi lên. Như vậy, này Vàsettha, là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Suddà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

26. Này Vàsettha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Này Vàsettha, giai cấp Samana (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.

27. Này Vàsettha,vị Khattiya, làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn ... Này Vàsettha,vị Vessà ... Này Vàsettha, vị Suddà làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

28. Này Vàsettha, vị Khattiya làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn... Này Vàsettha, vị Sessà... Này Vàsettha, vị Suddà làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới.

29. Này Vàsettha, vị Khattiya, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhân duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn... Này Vàsettha, vị Vessà... Này Vàsettha, vị Suddà, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến, có tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ.

30. Này Vàsettha, vị Khattiya, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn... vị Vessà... Này Vàsettha vị Suddà, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại.

31. Này Vàsettha, trong bốn giai cấp này, vị Tỷ kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.

32. Này Vàsettha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Này Vàsettha, bài kệ này được Phạm thiên Sanamkumàra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vàsettha, Ta cũng nói như sau:Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vàsettha và Bhàradvàja hoan hỷ tín thọ lời giảng Thế Tôn.


Các nguồn tư liệu khác từ kinh điển Đạo Phật


Kinh “Phạm Động” - Trường A Hàm:

http://www.quangduc.com/kinhdien/223truongaham21.html


Kinh “ Tiểu Duyên” – Trường A Hàm

http://www.quangduc.com/kinhdien/223truongaham05.html


Kinh ‘Thế Ký” – Trường A Hàm


-------