Hiển thị các bài đăng có nhãn abraham. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn abraham. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Giả Thuyết về ANNUNAKI





Thần thoại của vùng Lưỡng Hà


Theo thần thoại cổ đại vùng Lưỡng Hà, Annunaki là một từ có nghĩa là: " Từ bầu trời đến Trái đất. " Anu là vị thần tối cao trong hệ thống niềm tin của người Sumer. Ki là nữ thần của trái đất. Con đẻ của Anu và Ki được gọi là Annunaki. Thay vì hiểu theo nghĩa đen, Anu và Ki nên được hiểu theo nghĩa bóng là những người từ trên trời đến trái đất. Các Annunaki chỉ đơn giản là những đứa trẻ mà Anu đã tạo ra trên hành tinh Ki (trái đất). Các Annunaki từng được phục vụ bởi chủng loài Igigi, cho đến khi Igigi nổi dậy. Do đó các Annunaki cần phải tạo ra loài người để làm người phục vụ. Những người phục vụ không phải là nô lệ; họ đã được trân trọng ở địa vị cao, và được tạo ra chỉ với mục đích làm giảm công việc lao động cho các vị thần. Ban đầu, nhân loại đã không có tuổi thọ giới hạn, vì thế các vị thần chỉ có thể kiểm soát nạn nhân mãn qua lũ lụt, dịch bệnh, và nạn đói. Trong trận lũ cuối cùng, các vị thần đã xúc động vì khổ đau của nhân loại, và như vậy loài người đã được tạo ra với một tuổi thọ nhất định.



Trận hông thủy mà Ziusudra (Noah) sống sót với vợ trên chiếc tàu là trận hồng thủy cuối cùng có thể được tìm thấy trong Atra - Hasis và Epic của Gilgamesh . Ngoài ra còn một huyền thần thoại khác, đó là huyền thoại về mối quan hệ giữa Anu và Ki. Anu được gọi là huyền thoại về Chúa trời (sky god) và Mẹ Trái đất. Có một vị thần gọi là Enlil trông coi và kiểm soát bầu trời.

Câu chuyện về Annunaki


Annunaki là một chủng loại sinh vật đã đi băng qua không gian đến cư trú tại hành tinh Trái đất. Các Annunaki cai trị một chủng loài gọi là "Igigi". Loài Igigi là người làm việc phục tùng các Annunaki . Nhưng sau 2500 năm của lao động, Igigis nổi dậy chống lại lại các Annunaki. Thần Enki (lãnh đạo Annunaki) đề nghị tạo ra một chủng loại mới. Sau khi xem xét các điều kiện, rồi ở một nơi được gọi là Eden, Annunaki đã tạo ra loài người. “Đất sét trộn với thịt và máu” của một Anunaki để chủng loài mới này có thể có sự khôn ngoan của thần thánh. Nintu đã đưa một chút “chất mềm” vào " vỏ sò " và chín tháng sau đó, con người được sinh ra. Công nghệ tinh xảo về gen đã thành công, con người đã chứng minh nó là một lực lượng lao động tốt.

Huyền thoại cổ xưa về một vụ va chạm trong hệ mặt trời



Theo Zecharia Sitchin, hệ mặt trời của chúng ta vốn có 10 hành tinh. Sau đó đã có một hành tinh đã bị va chạm. Từ mảnh vỡ của cú va chạm, một nửa trở thành hành tinh Trái Đất, trong khi nửa còn lại đã trở thành vành đai tiểu hành tinh. Nguyên nhân của vụ tai nạn được cho là do một vật thể từ ngoài vũ trụ.
Nibiru là một hành tinh lớn (gấp nhiều lần trái đất) có quỹ đạo rất rộng. Đường bay của Nibiru cắt ngang thái dương hệ theo chu kỳ khoảng 3500 năm một lần.
Hệ mặt trời của chúng ta, tính cả Nibiru, có tổng cộng là 12 hành tinh.
Người ta hay gọi Nibiru là hành tinh thứ 12.

Các Tôn Giáo vùng Trung Đông


Người Sumer cổ đại thờ phụng các thần Annunaki. Trong tôn giáo Sumer, tín đồ bị cấm nhìn thấy trực tiếp hình hài thực sự của các vị thần Annunaki, vì vậy, người Sumer mô tả các thần của họ như là một động vật giống người (anthropomorphic) thay vì hình thái thực sự của các vị thần. Sau một thời gian dài, các nhóm dân tộc Sumer bị biến mất, rồi thay bằng dân tộc Akkadians, sau đó là dân Babylon. Dần dần, tôn giáo cũ đã được chuyển đổi thành các tôn giáo độc thần như Zoroastrianism và Chrisitianity .

Đặc điểm của Annunaki


Ngoại hình


Người ta không biết ngoại hình của các Annunaki một cách rõ ràng, mặc dù theo thần thoại Trung Đông, các Annunaki có thể giống như con người ở dạng nguyên bản, nhưng chiều cao lớn hơn. Các Annunaki là một chủng loại thay đổi hình dạng và có thể biến đổi thành nhiều hình dạng với kích cỡ khác nhau.

Mức trí tuệ


Đương nhiên Anunnaki là loài có khả năng tư duy. Có một số người cho rằng Anunnaki là chủng loài có siêu trí tuệ. Siêu trí tuệ này, nếu so sánh với trí tuệ của con người, sẽ giống như sự so sánh trí tuệ của con người với loài tinh tinh .

Ngôn ngữ


Theo các nhà lý thuyết âm mưu (conspiracy theorist), ngôn ngữ Sumer dường như là ngôn ngữ của loài Annunaki. Nhiều người tin rằng đây là ngôn ngữ đầu tiên được thể hiện bằng chữ viết và như vậy, ngôn ngữ của các Annunaki là ngôn ngữ “tiền-Sumer”. Nếu điều này là đúng, ngôn ngữ gần gũi nhất với các Annunaki sẽ phải là ngôn ngữ Hungary. Trong lịch sử tiền hiện đại, nhiều nhà ngôn ngữ học đã tìm thấy nhiều điểm tương đồng giữa các ngôn ngữ Hungary và ngôn ngữ Sumer. Người Hungary được cho là nhóm người Sumer sống lưu vong, nhiều truyền thuyết từ nền văn hóa Hungary cổ liên quan đến huyền thoại Annunaki. Dân tộc Manysi và dân tộc Khanty, cũng như người Hungary được xếp vào gia đình ngôn ngữ “Ugaric”. Có người tin rằng Mansi là hậu duệ của người Sumer . Tuy nhiên, mối quan hệ thân ngôn ngữ (linguistic affinities) tìm thấy cùng với tiếng Do Thái (Hebrew), đã ám chỉ các mối liên hệ khác của ngôn ngữ Sumer với các ngôn ngữ Semetic, tức loại ngôn ngữ đầu tiên dùng để viết Kinh Thánh. Akkadian là một ngôn ngữ semetic đã được người Sumer sử dụng thường xuyên trong thời kỳ người Akkadians đi vào Iraq.

Sụp đổ của tháp Babel – Sự thoái hóa ngôn ngữ nguyên thủy


Người ta tin rằng ngôn ngữ Sumer cổ đại đã biến thể sang nhiều ngôn ngữ khác nhau để tạo ra các nhóm ngôn ngữ chính mà chúng ta được biết bây giờ. Ngôn ngữ của Annunaki được cho là một ngôn ngữ hàm chứa rất nhiều logic, có nghĩa nó là một ngôn ngữ có độ chính xác cao, và những gì được nói đến trong ngôn ngữ đó đều được diễn tả đặc biệt. Nếu vậy, thì ngôn ngữ Annunaki có ngữ pháp rất tinh vi, mất rất nhiều thời gian học tập . Khi ngôn ngữ nguyên thủy của loài người bắt đầu thoái hóa, ví dụ khi ngôn ngữ không còn các “case” và “signature” thì cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nguyên thủy có thể đã bị mất rất nhiều. Người ta thấy ngôn ngữ Hungary có nhiều cấu trúc dường như xa lạ với ngôn ngữ láng giềng Ấn-Âu (indo-European) của nó. Ngôn ngữ Do Thái (Hebrew), cũng có mối quan hệ thân ngôn ngữ, ám chỉ mối liên hệ giữa ngôn ngữ Sumer và Semetic.

Mối quan hệ giữa Annunaki với các chủng loài khác


Reptilians


Các Reptilians là một loài đến từ hành tinh khác và được đồn đại là có thật. Cũng không chắc là Anunnaki hoặc Reptillians là hai loài riêng biệt, hoặc thực tế chúng là cùng một loài hoặc một trong hai chi nhánh của nhau. Reptilians cũng được ghi nhận là loài có hình dạng thay đổi, và có kiến ​​thức về kỹ thuật di truyền. Một số vị thần cổ đại, được tôn thờ trong những tôn giáo lớn thủa xưa, được cho là Reptilians, đã quyến dụ con người với mong muốn được con người tôn kính như một vị thần! Giống như người Sumer cũng đã từng tôn kính các Annunaki. Sự khác biệt là các Reptillians là loài bò sát có hình dạng giống người nhưng có vảy (và đôi khi cũng được mô tả là loài bò sát không có vảy). Reptilians đã được biết là có một loài bẩm sinh ác độc. Nhưng mặc dù vậy, vẫn có tồn tại loài Reptilia phúc hậu. Bản chất của Annunaki là không rõ.

Pleiadians


Các Pleiadians là một loài đến từ hành tinh khác. Không chắc Anunnaki và Pleiadians là hai loài riêng biệt, hoặc họ là cùng một loài, hoặc họ là một trong hai chi nhánh của nhau. Pleiadians đã được ghi nhận như là một chủng loài nhân hậu, luôn muốn thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng. Không có thông tin liệu họ có tiến hành các hoạt động liên quan đến việc sáng tạo nhân loại hay không? Khó có thể liên hệ các bản chất của Annunaki với Pleiadians. Cũng không rõ là các thần linh trong các tôn giáo thời cổ đại có phải là Pleiadians hay không? (mặc dù Chúa Kitô đã được gọi một cách gợi ý dưới cái tên “Jmannuel ").

Các Pleiadians có hình thể rất khác nhau. Loại phổ biến nhất là gọi là người Nordic (Bắc Âu). Hình thể đặc thù của Pleiadians có thể là những người tóc vàng mắt xanh cho đến những người giống bạch tạng. Vóc dáng của họ rất cao to và khối lượng cơ bắp lớn hơn. Họ đã được gọi là người “Bắc Âu” vì họ giống với người ở bán đảo Scandinavi . Ngoài ra còn có các biến thể khác của Pleiadians có màu da tối, như một biến thể Pleiadians giống người da đen. Một biến thể khác làm cho Pleiadians có hình thái giống người phía Đông Ấn Độ. Tuy vậy, hình dạng đặc trưng nhất của Pleiadians là hình dạng giống người Bắc Âu. Pleiadians trông giống như con người nhưng có thể họ đã đến hành tinh trái đất này từ nhiều thời kỳ trước đây. Nếu Pleiadians trông giống như con người, họ cũng có thể liên quan đến các Annunaki, chủng loài được biết như là "hình ảnh của loài người"

Greys


Chủng loại Grey ít được biết đến. Grey là một chủng loại hoàn toàn không có giới tính (genderless), có khả năng thần giao cách cảm, có cái đầu lớn biểu hiện cho sự thông minh . Cả hai loài Greys và Annunaki đều có kinh nghiệm trong kỹ thuật di truyền, ví dụ như Greys sử dụng công nghệ nhân bản chính mình hoặc tạo một bào thai lai với con người, trong khi Pleiadians tạo ra phiên bản bào thai của chính mình. Có thể, chủng loài Greys (hoặc một số trong số họ) là một chủng phục vụ cho Anunnaki, nhưng mối quan hệ giữa hai chủng loại còn là điều không rõ ràng.

Hành tinh mẹ của các chủng loài ngoài trái đất


Nibiru


Nibiru là tên gọi cho một hành tinh hay cho một vương quốc nhỏ chưa ra đời. Nó có các hành tinh quay xung quanh và các thiên thể (chẳng hạn như các tiểu hành tinh nhỏ) của riêng nó. Nibiru có thể là hành tinh mẹ nơi sinh ra các Annunaki. Nơi này cũng đã được giả thuyết là quê hương của chủng loài Reptilians.


Vương quốc của Thiên Chúa (The kingdom of God)


Có giả thuyết cho rằng Annunaki là những thiên thần được tạo ra bởi Thiên Chúa. Như vậy, hành tinh mẹ của họ chính là Vương Quốc của Thiên Chúa, cái mà người Hồi Giáo gọi là Paradise và thế giới phương Tây gọi là Heaven (thực sự có nghĩa là những gì chúng ta nhìn thấy trên bầu trời ) .

Lý thuyết này chỉ đúng nếu Anunnaki là tôi tớ của Thượng Đế Abraham, có nghĩa Abraham là vị thần của họ. Theo quan điểm Hồi giáo, Anunnaki có thể được tự do làm theo ý chí ( jinn hoặc djinn ) riêng của mình hoặc tuân theo mệnh lệnh của Thượng Đế. Theo quan điểm Kitô giáo hiện nay, Anunnaki có thể là thiên sứ tuân phục lệnh của Chúa, hoặc có thể là thiên sứ sa ngã, không vâng lời Thiên Chúa (để tiếp tục theo đuổi những ham muốn riêng của họ). Các nhà lý thuyết âm mưu cho rằng chủng loại Reptilia chính là con cháu của các thiên thần sa ngã, và theo quan điểm Hồi giáo, họ là một trong những jinns (Quỷ) và Brittani (người nói ngôn ngữ Celtic) là người cai trị của Annunaki.

Văn hóa của loài Anunnaki

Không rõ về văn hóa của loài Annunaki. Tuy nhiên, các mẫu thiết kế kiến trúc có thể là rất giống với các mẫu thiết kế được sử dụng bởi người Sumer .

Tôn Giáo


Không rõ về Tôn giáo của người Anunnaki. Có khả năng Annunaki có ba tôn giáo .

Tôn giáo độc thần: Thờ phụng Thiên Chúa Abraham (như trong tài liệu mà người Sumarians đã ghi chép những câu chuyện về họ, song song với những câu chuyện trong Kinh thánh Cựu Ước). Có bằng chứng cho thấy các Annunaki được chỉ huy bởi Thiên Chúa, hoặc hành động của họ kết cục là sai lầm, nhưng tất cả đều do chủ đích của Thiên Chúa.
Tôn giáo đa thần: như tôn giáo của người Sumer
Vô thần: Một số người tin Annunaki theo triết lý Vô thần vì họ đã có tiến bộ cực cao trong ngành công nghệ. Annunaki sẽ từ chối một hiện sinh tối cao trong vũ trụ giống như một số người trong xã hội tiên tiến của chúng tôi ngày nay.

Tổng Kết về giả thuyết Annanuki


Nơi gặp gỡ giữa các quan điểm đối nghịch về nguồn gốc loài người


Nếu thuyết về tiến hóa của Darwin đã đưa đến một cuộc xung đột rất lớn với quan điểm của các tôn giáo trên thế giới, thì thuyết về Anunnaki lại đóng một vai trò như là một điểm hội tụ, có thể hóa giải các mâu thuẫn cho các nhà tiến hóa luận, sáng tạo luận và nhà nghiên cứu sử cổ đại.

Giả thuyết về Anunnaki dựa trên các cuộc khai quật tìm thấy các tài liệu và hiện vật cổ xưa. Đây là các bằng chứng xác nhận các nền văn minh cổ đại đã từng được trợ giúp bởi người ngoài trái đất. Trong các bản thảo cổ xưa, có một số thông tin ngụ ý rằng các nền văn minh cổ đại đã có được kiến ​​thức khoa học tiên tiến mà con người chúng ta đang biết trong thời kỳ hiện đại Mô hình chuỗi xoắn kép của DNA, thể hiện ở biểu tượng con rắn xoắn kép trên một cái cây biểu, chính là hình ảnh phổ biến trong số những biểu tượng y tế ngày nay. Một sự thực là biểu tượng con rắn xoắn kép đã được dựa trên mô hình AND. Đó chính là bằng chứng cho thấy rất xa xưa trong cổ đại đã tồn tại những kiến ​​thức về mô hình bộ gen DNA. Các bản văn phụng vụ cổ xưa, di tích của vùng Lưỡng Hà đã được liên kết với đoạn khác nhau trong Kinh thánh Hebrew. Ví dụ, sử thi của Gilgamesh là tương đồng của câu chuyện về Noah Ark, và kinh Sáng thế ký (Genesis) trong Torah phù hợp với truyền thuyết sáng tạo của vùng Sumer có liên quan đến các Annunaki .

Các thuyết âm mưu - Conspiracy theories


Trong hiện đại Các thuyết âm mưu xoay quanh các chủ đề như vụ 11/9, và các kế hoạch bí mật của các tầng lớp trên thế giới như New World Order. Bên cạnh đó là giả thuyết về các Anunnaki. Các Annunaki thường liên quan Reptillians và cả hai được cho là cùng loài. Có thông tin cho rằng các tầng lớp nắm giữ quyền lực cao trên trái đất thuộc về một trong những chủng Annunaki.

Phạm Doãn



-----

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

Trải Nghiệm Tâm Linh trong các Tôn Giáo Abrahamic


Mặc Khải và Thiền

Trong kinh thánh của các tôn giáo Abrahamic không có khái niệm về “thiền” (meditation) nhưng xét về nội dung, thì Thiền cũng đã được xử dụng trong các tôn giáo này tức Do thái giáo, Hồi giáo và Thiên chúa giáo. Khái niệm tương đương với Thiền, thường dùng trong thánh kinh, là revelation.Tiếng Việt dịch là khải thị, mặc thị, mặc khải. Ngồi yên và mặc khải cũng hệt như ngồi yên và thiền định. Cảnh giới thấy được trong mặc khải cũng giống như cảnh giới trong tam muội (samadhi) mà một luận sư Phật Giáo Đại Thừa, Long Thọ, đã đề cập tới (tham khảo “Luận đại trí độ” của Long Thọ. Chương 12, Tập 01 (thượng tọa Trí Siêu Việt dịch)

. Trong chương Revelation tức Apocalypse, thường được dịch là kinh Khải huyền, tất cả những mô tả về tiếng nói, âm thanh, âm nhạc, kèn đồng, ánh sáng, lửa…và đủ loại các cảnh giới khiến ta liên tưởng ngay đến các loại tam muội trong Phật Giáo Đại Thừa và các tôn giáo Ấn Độ khác.
Rất dễ dàng để nhận ra khải thị, mặc thị, mặc khải là kết quả của thiền (meditation). Có những sự kiện trong Tân Ước rất giống với trải nghiệm thiền. Ví dụ:
- Ngay khi John Baptiste làm phép nước (water baptize) cho Jesus. Jesus thấy một làn ánh sáng từ trời cao chiếu xuống, mà ngôn ngữ ẩn dụ của thánh kinh thời đó mô tả như một con chim bồ câu trắng lao xuống. Thể nghiệm ánh sáng này thường xảy ra trong các loại thiền Ấn Độ giáo. Theo ngôn ngữ của Ấn giáo , thì đây là lúc John Baptist truyền tâm ấn (initiation) cho Jesus.
- Khi Jesus đi vào sa mạc một mình. Ngài đã làm gì trong một tháng độc cư giữa cái hoang vu im lặng của sa mạc. Sự kiện đó có thể là gì? Vatican có cách hiểu và đã giải thích theo quan điểm truyền thống. Nhưng cách hiểu rằng Jesus ngồi tĩnh tâm, quán chiếu và mặc khải là phù hợp với sự thật nhất. Jesus đã thiền định và chiến thắng mọi ảo giác. Ngài chiến thắng con rắn tức Satan tức biểu tượng của cái ác. Khi những ảo tưởng của tâm đã bị hàng phục, Jesus đại ngộ (enlightened). Ngài trở về và bắt đầu thuyết giảng.
Trong huyền thoại của Hồi giáo, Mohammad đã nhiều lần lên núi Hira để mặc khải tức thiền định. Trong cảnh giới của mặc khải. Mohamad đã gặp thánh Michael (tổng lãnh các thiên thần), và nghe những lời giảng linh thiêng tại đây.
Theo Do thái giáo, Moses đã từng nhiều lần nhận các mặc khải trên núi Sinai. Bởi vì cùng có chung một cội nguồn xuất phát, nên cả ba tôn giáo Do thái, Hồi giáo, Thiên chúa giáo đều chia sẻ chung khái niệm về “revelation” tức “mặc khải” như vừa kể ở trên.

Một vài sự khác biệt

- Các tôn giáo xuất phát từ Cựu ước (Old Testament) đều có chung niềm tin rằng mặc khải là ơn thiên sủng, nghĩa là mặc khải là trạng thái chỉ được ban ơn từ Chúa trời. Đây chính là sự khác biệt chính yếu nhất làm ra đường ranh giữa các tôn giáo xuất phát từ văn minh Lưỡng Hà (mesopotamie) với các tôn giáo xuất phát từ văn minh song Hằng. Đạo Phật ttin rằng không phải trạng thái tam muộii là ơn huê được ban từ Thượng Đế, mà bất cứ người nào rèn luyện tâm linh đúng cách đều có khả năng có được trạng thái đó.
- Đối với các tôn giáo Abrahamic, mặc khải là sự giao tiếp với Thượng Đế và đó là loại hình duy nhất. Đối với Phật giáo Đại Thừa, những tam muội được được phân biệt và phân loại thành nhiều loại khác nhau như: Tam muội vương tam muội, Hoa Nghiêm tam muội, Du hí thần thông tam muội v.v…

Trải nghiệm tâm linh của các bậc thánh trong Thiên Chúa giáo.


Trải nghiệm của Thánh John thánh giá (John of the Cross)


John of the Cross (1542-1591) sinh tại một làng nhỏ ở Fontiveros, gần Avila, Tây Ban Nha. Cha mất sớm, đi làm cho một bệnh viện rồi gia nhập giáo phái Carmel (Carmel order). Cuộc đời nhiều thăng trầm, nhưng ngài là một tu sĩ được mọi người ngưỡng mộ và được thắng tiến rất sớm. John of the Cross nổi tiếng với những cải cách về tôn giáo. Có lẽ ngài ngộ (enlightened) rất sớm cho nên thấy rất rõ những sai lầm của giáo hội và sai lầm ngay trong Carmelite order mà ngài là thành viên cao cấp. Cuối cùng đến tháng 12 năm 1577. Đại diện cho thế lực tôn giáo lúc đó, người lãnh đạo Carmelite oder, đã bắt giam ngài. John of the Cross đã chịu giam cầm trong một phòng vô cùng nhỏ, chỉ vừa cho cơ thể của ngài và đủ thứ nhục hình, thậm chí phải chịu đòn roi trước công chúng mỗi tuần. Không còn chịu nổi sự hành hạ tàn nhẫn của giáo hội, của những con người đại diện Chúa Trời lúc đó, John of the Cross vượt ngục sau chin tháng bị giam cầm.
Sau khi hồi phục thể xác và tâm linh, Thánh John of the Cross, được sự đồng cảm và giúp đỡ của Thánh nữ Theresa D’Avila, bắt đầu gây dựng phong trào cải cách Thiên Chúa giáo gọi là new Carmelite Order với rất nhiều nhà thờ. Thời gian này ngài đã viết một số tác phẩm tâm linh dưới hình thức văn thơ. Thánh John of the Cross là vị thánh Thiên Chúa giáo hiếm hoi trình bày minh bạch các trải nghiệm tâm linh của mình cho công chúng. Đây chính là các trải nghiệm mà một người có tu tập thiền đều dễ dàng nhận biết.
John of the Cross có hai tập thơ khoảng 2.500 câu:
- The spiritual Canticle: Mô tả cái khao khát được gặp Chúa, ẩn dụ dưới hình ảnh một chú rể khao khát tìm kiếm cô dâu hay nỗi sợ hãi phải chia lìa người hôn phối.
- Dark night of the soul: Kể lại hành trình của linh hồn, từ ngôi nhà thường ngày của mình là thân xác, đi đến găp gỡ và phối giao với Thượng đế. Cảm giác giống như nội dung của kinh Hoa Nghiêm với Thiện Tài đồng tử trên hành trình đi học đạo. Ngài mô tả những giai đoạn khó khăn của linh hồn, khi tách ra khỏi thân xác hay khi gặp gỡ và phối hợp với ánh sáng của Thượng đế.
Và tác phẩm thứ ba rất quan trọng gây ấn tượng nhất là “Lên đỉnh Carmel”.
- Ascension of Mount Carmel
Mô tả chi tiết toàn bộ các trãi nghiệm tâm linh trên hành trình tìm và gặp chúa. Một tín đồ Đạo Christ có thể tìm gặp chúa ở đâu? Không phải ở trong giáo đường ! Chỉ có duy nhất một cách để tiếp cân Chúa là quay vào bên trong. Chỉ có măc khải hay thiền là phương cách tiếp cận chúa. Thánh John of the Cross đã mô tả trãi nghiêm “quay vào trong” này gian khó như người leo lên một ngọn núi cao. Tất cả các trải nghiệm của ngài được mô tả theo thứ bậc, giống như trạng thái thiền có giai đoạn và thứ bậc. Lúc bắt đầu ở chân núi thì cảm giác còn ấm áp nhẹ nhàng. Càng lên cao càng lạnh căm giá buốt. Có lúc phải trải nghiệm một cảm giác như bị xé rách lúc gần tới đỉnh. Cuối cùng là ánh sáng huy hoàng của Chúa, niềm hoan lạc cực đỉnh khi hòa tan với Chúa.

Trải Nghiệm của Thánh Nữ Theresa of Avila


Thánh Theresa of Avila


Theresa of Avila là một nữ tu Tây Ban Nha sinh năm1515. Bà được biết như một người đã có được mặc khải và trong mặc khải này, Thượng Đế đã xuất hiện và trao thông điệp cho bà. Bà đã sáng lập dòng tu Discalced Carmelites (discalced có nghĩa là chân đất). Dòng tu Carmelites đặt niềm tin vào sự thệ nguyện không sở hữu tài sản (chân đất) và cộng đồng tín hữu địa phương. Tuy nhiên điều này không được chào đón như niềm tin nhà thờ là đại diện cho Thượng Đế.
Bà Theresa bị chất vần về niềm tin cũng như về khải thị mà bà đã nhận được. Có người cho rằng bà đã ngụy tạo những khải thị đó! Bà cũng bị kết tội là kẻ dị giáo và bị bị tòa án giáo hội xét xử vào năm 1576. Theresa bị kết án về sự thần bí đem lại nhiều nguy hiểm.
Thần bí được xem là tội ác vì nó đi ngược lại những giáo điều của nhà thờ. Thần bí dạy con người phải tin vào chính mình hơn là tin vào bất cứ tổ chức tôn giáo nào! Bởi vì con người có khả năng kết nối tâm linh với Thượng Đế mà không cần đến bất cử nhà thờ nào! Đã có những người chỉ tin vào Thượng Đế hoặc tin vào sự tự nối kết vơi Thượng Đế để trải nghiệm giác ngộ, mà không cần đến sự giúp đỡ của bất cứ tổ chức quyền lực nào, như Nhà Thờ.
Bức tượng điêu khắc bên dưới diễn tả trạng thái gọi là "transverberation". Cho thấy Thánh  nữ Theresa bị chạm bởi mũi tên của một thiên thần.

(Tượng Thánh nữ Theresa trong cơn xuất thần
của Gian Lorenzo Bernini)

(Thiên đàng của người Đạo Christ - Christian after life)
(Cảnh giới Thiên Đàng-Tranh Vihuela-Luca Signorelli)

(Thiên Đàng theo diển tả của kinh Q'ran với 72 trinh nữ-houris)